10-10-2018 - 04:08

ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ VƯỜN HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC THỌ GIAI ĐOẠN 2018 - 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2025. (Ban hành kèm theo Quyết định số 3279 QĐ-UBND ngày 08/8/2018 của UBND Huyện)

ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ VƯỜN HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC THỌ GIAI ĐOẠN 2018 - 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2025. (Ban hành kèm theo Quyết định số 3279 QĐ-UBND ngày 08/8/2018 của UBND Huyện)

ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ VƯỜN HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC THỌ GIAI ĐOẠN 2018 - 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2025. (Ban hành kèm theo Quyết định số 3279 QĐ-UBND ngày 08/8/2018 của UBND Huyện)

UỶ BAN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

ĐỀ ÁN

PHÁT TRIỂN KINH TẾ VƯỜN HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC THỌ

GIAI ĐOẠN 2018 - 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2025.

(Ban hành kèm theo Quyết định số 3279 QĐ-UBND ngày 08/8/2018

của UBND Huyện)

 

Phần thứ nhất:

ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG ĐỂ ÁN

 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Huyện Đức Thọ có diện tích tự nhiên 20.520,56 ha, được phân chia ra thành 04 vùng sinh thái gồm: Vùng Thượng Đức - Trà Sơn; Vùng Thị Trấn - ven thị Trấn; Vùng Lúa và Vùng Ngoài đê.

Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 10.940,06 ha chiếm 53,31% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích đất vườn là 2.429,22 ha. Những năm qua phát triển kinh tế vườn đã được các cấp chính quyền và người dân tập trung chú trọng cải tạo, chỉnh trang bố trí các loại cây trồng, vật nuôi hợp lý để nâng cao giá trị kinh tế thu nhập của vườn hộ, phong trào xây dựng vườn mẫu của chương trình xây dựng  Nông thôn mới trên địa bàn huyện đã xây dựng nhiều vườn hộ sản xuất kinh tế có quy hoạch, có ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa lại hiệu quả kinh tế cao cho các hộ gia đình. Tuy nhiên, theo đánh giá thực trạng hiện nay số lượng vườn hộ được người dân xây dựng, chỉnh trang, đầu tư để phát triển kinh tế vườn chưa nhiều, phát triển kinh tế từ vườn chưa được đa số người dân chú trọng, chưa có ý thức đầu tư để phát triển kinh tế vườn do đó nguồn  thu nhập từ vườn hộ chưa cao, chưa phải là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ gia đình. Để khai thác tối đa các diện tích đất vườn giúp nhân dân loại bỏ các loại cây trồng, con nuôi chưa phù hợp, hiệu quả kinh tế không cao, tập trung chỉnh trang vườn hộ đưa các loại cây trồng, vật nuôi có lợi thế về kinh tế vườn hộ của từng vùng, từng địa phương vào sản xuất  gắn với Ứng dụng các tiến bộ Khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ vào sản xuất, gắn với  chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới về chỉnh trang vườn hộ, xây dựng khu dân cư kiểu mẫu, xây dựng vườn mẫu tại các địa phương hiện nay; Uỷ ban nhân dân huyện xây dựng Đề án phát triển kinh tế vườn hộ trên địa bàn huyện giai đoạn 2018 - 2020, định hướng đến năm 2025.

II. CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

1. Căn cứ Quyết định số: 59/2015/QĐ-UBND ngày 24/11/2015 về ban hành bộ tiêu chí xây dựng vườn mẫu nông thôn mới áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.

2. Căn cứ Nghị quyết 01/NQ-HU ngày 28/4/2011 của BCH Đảng bộ huyện về tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2020; Nghị quyết chuyên đề số 02 /NQ-HU ngày 7/10/2011 về tập trung phát triển ngành nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 định hướng đến năm 2020.

3. Căn cứ chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội tại nghị quyết Huyện Đảng bộ khóa XIX, nhiệm kỳ 2015 - 2020.

4. Căn cứ vào Đề án phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn giai đoạn 2015-2020, định hướng đến năm 2025 của các xã đã được UBND huyện phê duyệt;

5. Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, điều kiện phát triển sản xuất của các xã, Thị trấn và các vùng sinh thái trên địa bàn huyện. 

 

Phần thứ hai:

THỰC TRẠNG KINH TẾ VƯỜN HỘ

Toàn huyện hiện nay có 21.093 vườn, trong đó có: 148 vườn trên 5.000 m; 363 vườn từ: 3.000 m- 5.000 m; 2.719 vườn từ: 1.000 m-  dưới 3.000m2;  5.332 vườn từ: 500 m-  dưới 1.000m2;  6.853 vườn từ: 200 m-  dưới 500m2  và 5.678 vườn dưới 200 m2. Trong đó số vườn có khả năng đầu tư chỉnh trang để phát triển kinh tế là 18.969. Số vườn không có khả năng chỉnh trang phát triển kinh tế do chủ hộ tuổi cao, chủ hộ đi xã, bỏ hoang là 2.124 vườn. Số vườn hiện nay đã chỉnh trang là 12.925 vườn. (Có biểu chi tiết số 01, 02, 03 kèm theo).

Nguồn lực lao động để phát triển kinh tế vườn hộ hiện nay: 39.062 lao động, độ tuổi trung bình của lao động phát triển kinh tế vườn hộ từ 35 tuổi đến 65 tuổi.

I. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VƯỜN HỘ TẠI CÁC VÙNG SINH THÁI

1. Vùng Thượng Đức - Trà Sơn:

Gồm có 09 xã: Đức Lạng, Đức Đồng, Đức Lạc, Đức Hòa; Đức Long, Đức Lập, Đức An, Đức Dũng và xã Tân Hương. Toàn vùng có 7.520 vườn hộ trong đó: 148 vườn trên 5.000 m2; 345 vườn từ: 3.000 - 5.000 m; 1.876 vườn từ: 1.000 -  dưới 3.000m2; 1.845 vườn từ: 500 – dưới 1.000m2; 1.750 vườn từ: 200 -  dưới 500m2  và 1.556 vườn dưới 200 m2. Tổng số lao động có khả năng làm vườn là 13.912 người. Số vườn không có khả năng đầu tư phát triển kinh tế là 769 vườn do chủ hộ tuổi cao, chủ hộ đi xa, bỏ hoang (Có biểu chi tiết số 01, 02 kèm theo);

Các vườn có diện tích trên 5.000m2 (Tân Hương 84 vườn, Đức Đồng 29 vườn; Đức Lạng 11 vườn; Đức Lập 9 vườn, Đức Hòa 7 vườn, Đức An 4 vườn và Đức Lạc 4 vườn) đang sản xuất chủ yếu là trồng cây ăn quả như: Cam, Chanh, Chè, bưởi, rau các loại các loại và kết hợp chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, nuôi cá. Thu nhập bình quân từ vườn hàng năm đạt từ 35 - 120 triệu đồng/vườn/năm.

Các vườn có diện tích từ 3.000 - 5.000m2 tập trung nhiều tại xã Tân Hương 142 vườn, Đức Đồng 72 vườn, Đức Hòa 24 vườn, Đức Lập 25 vườn … đang  sản xuất chủ yếu bố trí trồng cây ăn quả: Cam, Chanh bưởi từ 200 cây trở lên, sản xuất rau củ quả và chăn nuôi 3-5 con trâu, Bò, nuôi từ 10-50 con lợn, chăn nuôi gà từ 50-300 con gà /lứa, nuôi trồng thủy sản có diện tích ao nuôi từ  300-1.500m2. Thu nhập bình quân mỗi năm đạt từ 20 - 80 triệu đồng/vườn. Đặc biệt, hiện nay có một số vườn hộ tại các xã Đức Lạng (Hộ ông Võ Huy Cận, Võ Thấu, Bùi Thị Thủy, Trần Văn Trợ, Võ Hiển ở thôn Tiến Lạng), một số hộ khác tại các xã: Tân Hương, Đức Lập, Đức Đồng mỗi năm đã cho thu nhập kinh tế vườn đạt từ 120 - 200 triệu đồng/vườn.

Các vườn có diện tích từ 1.000 - 3.000m2  chủ yếu trồng lẫn nhiều loại cây ăn quả như: Cam, Chanh, Bưởi, sản xuất rau, màu kết hợp chăn nuôi: Bò, lợn, gà… Thu nhập bình quân mỗi năm đạt từ 15 - 50 triệu đồng/vườn/năm.

Các vườn có diện tích từ dưới 200 m2 - 1.000 m2 chủ yếu đang bố trí sản xuất chưa có quy hoạch, cùng một lúc đang trồng nhiều loại cây ăn quả, rau các loại kết hợp chăn nuôi trâu , bò, gia cầm quy mô nhỏ, thậm chí nhiều vườn còn để hoang. Thu nhập bình quân mỗi năm đạt từ 3 - 20 triệu đồng/vườn/năm.

* Các xã vùng Thượng Đức - Trà Sơn có lợi thế đó là: Có nhiều vườn diện tích đất rộng, mật độ dân số thấp thuận lợi cho việc phát triển trồng cây ăn quả, chăn nuôi -  nuôi trồng thủy sản quy mô lớn, đa dạng về đối tượng cây trồng, vật nuôi, Bên cạnh đó vẫn còn một số khó khăn như: Trình độ người dân không đồng đều ảnh hưởng đến việc áp dụng các tiến bộ Khoa học kỹ thuật vào sản xuất, một số xã nằm trong vùng ngập lụt, xa vùng trung tâm nên thị trường tiêu thụ sản phẩm không thuận lợi. 

2. Vùng Lúa:

Gồm 09 xã: Đức Lâm, Trung Lễ, Đức Thuỷ, Đức Thanh, Đức Thịnh, Thái Yên, Yên Hồ, Đức Nhân, Bùi Xá. Toàn vùng có 7.510 vườn hộ, trong đó: 363 vườn từ: 1.000 - 3.000m2; 1.839 vườn từ: 500 -  dưới 1.000m2; 3.030 vườn từ: 200 -  dưới 500mvà 2.278 vườn dưới 200 m2. Tổng số lao động có khả năng làm vườn là 13.890 người. Số vườn không có khả năng đầu tư phát triển kinh tế là 567 vườn (do chủ hộ tuổi cao, chủ hộ đi xa, bỏ hoang).

Vườn có diện tích từ 1.000 - 3.000m2 có 363 vườn, tập trung tại các xã: Đức Lâm 173 vườn, Đức Thanh 75 vườn, Yên Hồ 39 vườn..., hiện nay vườn đang chủ yếu trồng các loại  rau củ quả và trồng xen các loại cây ăn quả như: Na, bưởi, ổi, hồng, chuối…với quy mô từ 10 – 30 cây, kết hợp chăn nuôi chăn nuôi 2-3 con trâu, bò, nuôi từ 5-20 con lợn/lứa, nuôi 50-100 gà/lứa. Thu nhập bình quân mỗi năm đạt từ 15 - 50 triệu đồng/vườn/năm.

Các vườn có diện tích từ 500 - 1.000m2 chủ yếu tập trung sản xuất các loại rau, củ, quả, trồng xen một số cây ăn quả như: Ổi, na, chuối, bưởi…phát triển chăn nuôi: lợn, bò, gà, vịt, ngan quy mô nhỏ... Thu nhập bình quân mỗi năm đạt từ 10 - 20 triệu đồng/vườn/năm.

Các vườn có diện tích từ 200- 500m2 chủ yếu trồng các loại rau củ quả kết hợp chăn nuôi: Lợn, bò, gà...Thu nhập bình quân mỗi năm đạt từ 5 - 10 triệu đồng/vườn/năm.

* Các xã vùng Lúa có đặc điểm đó là: Có diện tích vườn nhỏ, mật độ dân số tập trung nên khó khăn trong việc quy hoạch phát triển kinh tế vườn theo hướng hàng hóa tập trung. Các loại cây trồng chủ yếu của vùng là sản xuất rau, củ, quả mang các loại theo mùa vụ kết hợp chăn nuôi hộ gia đình quy mô nhỏ tính tự cung tự cấp

3. Vùng ngoài đê:

Gồm 07 xã: Trường Sơn, Liên Minh, Đức Tùng, Đức Châu, Đức La, Đức Quang, Đức Vĩnh.

Toàn vùng có 3.521 vườn hộ trong đó: 210 vườn từ: 1.000 - 3.000m2; 1.139 vườn từ: 500 -  dưới  1.000m2; 1.135 vườn từ: 200 - dưới 500m2  và 1.037 vườn dưới 200 m2. Tổng số lao động có khả năng làm vườn là 6.514 người. Số vườn không có khả năng đầu tư phát triển kinh tế là 349 vườn (do chủ hộ tuổi cao, chủ hộ đi xa, bỏ hoang).

Vườn có diện tích từ 1.000 - 3.000m2 chiếm tỷ lệ  rất ít, chủ yếu đang trồng rau, củ, quả, sản xuất cây màu kết hợp chăn nuôi từ 2 - 3 con bò, nuôi 50-100 gà, ... Thu nhập bình quân mỗi năm đạt từ 25 - 50 triệu đồng/vườn/năm.

Các vườn có diện tích từ 500 - 1.000m2 chủ yếu trồng nhiều loại cây ăn quả: như: Ổi, na, chuối, bưởi,  rau các loại kết hợp  phát triển chăn nuôi: Bò, gà, vịt, ngan...Thu nhập bình quân mỗi năm đạt từ 10 - 20 triệu đồng/vườn/năm.

Các vườn có diện tích từ 200- 500m2 chủ yếu trồng rau màu kết hợp chăn nuôi: Bò, gà...Thu nhập bình quân mỗi năm đạt từ 5-10 triệu đồng/vườn/năm.

* Các xã vùng ngoài đê có thuận lợi đó là  đất đai màu mỡ, người dân có trình độ thâm canh cao.. tuy nhiên, đây là vùng hàng năm bị ngập lụt nên khó khăn trong việc bố trí  đầu tư sản xuất của người dân.

4. Vùng Thị trấn, ven Thị trấn:

 Nằm ở trung tâm của huyện, bao gồm 03 đơn vị là: Thị Trấn, Đức Yên và Tùng Ảnh.  Toàn vùng có 2.542 vườn hộ trong đó:  18 vườn từ: 3.000 - 5.000 m; 270 vườn từ: 1.000  -  dưới 3.000m2; 509 vườn từ: 500 m2   -  dưới 1.000m2; 938 vườn từ: 200 -  dưới 500m2  và 807 vườn dưới 200 m2. Tổng số lao động có khả năng làm vườn là 4.703 người. Số vườn không có khả năng đầu tư phát triển kinh tế là 439 vườn (do chủ hộ tuổi cao, chủ hộ đi xa, bỏ hoang).

Đây là vùng có lợi thế để phát triển các đối tượng cây trồng như: rau, củ, quả và hoa, tuy nhiên sản xuất manh mún, chưa quy hoạch vùng tập trung nên hiệu quả đạt thấp.

Các vườn có diện tích từ 500 – 5000m2 hiện nay đang chủ yếu đầu tư sản xuất các loại rau, củ, quả, trồng xen  các loại cây ăn quả như: Na, bưởi, hồng xiêm, mít thái, chuối... Kết hợp chăn nuôi bò, gà nuôi mỗi hộ từ 1-2 con bò, gà nuôi từ 50-80 con/lứa. Thu nhập từ vườn hộ của vùng bình quân đạt từ 20-25 triệu đồng/năm.

Những vườn hộ có diện tích dưới 500m2 hiện nay chủ yếu trồng các loại rau củ quả, rau gia vị kết hợp chăn nuôi gà đẻ trứng, gà thịt từ 10-50 con/hộ, thu nhập đạt từ 5-10 triệu đồng vườn/năm.

* Các xã vùng Thị trấn và ven Thị trấn:  mật độ dân số cao, là vùng trung tâm của huyện nên nhu cầu tiêu thụ sản phẩm lớn, thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm, đây là vùng thuận lợi để phát triển các loại sản phẩm như: rau, củ, quả, rau gia vị, trồng hoa. Tuy nhiên, khó khăn của vùng đó là: Diện tích sản xuất nhỏ, lẻ manh mún khó phát triển thành vùng hàng hóa quy mô lớn tập trung, người dân ít mặn mà trong đầu tư sản xuất nông nghiệp.

II.  KẾT QUẢ CHỈNH TRANG VƯỜN HỘ, XÂY DỰNG VƯỜN MẪU

1. Kết quả đạt được

Quá trình thực hiện chỉnh trang vườn hộ và công trình chăn nuôi trong xây dựng Nông thôn mới đến nay đã có 12.925 vườn hộ đã thực hiện chỉnh trang, đầu tư phát triển kinh tế ( Có biểu chi tiết số 02 kèm theo), xây dựng phát triển kinh tế vườn theo công thức VAC kết hợp, bước đầu các vườn đã đưa lại hiệu quả kinh tế. Đa số người dân thấy được việc chỉnh trang, quy hoạch phát triển kinh tế vườn là cần thiết để nâng cao thu nhập của hộ gia đình.

Thực hiện chính sách hỗ trợ xây dựng vườn mẫu đến nay toàn huyện đã có 104 vườn hộ đã được hưởng kinh phí từ ngân sách tỉnh theo Quyết định 09 và Quyết định 18 của UBND tỉnh Hà Tĩnh.

2. Tồn tại, hạn chế - Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế.

2.1  Tồn tại, hạn chế:

-  Các vườn hộ hiện nay chủ yếu là sản xuất manh mún, chưa có quy hoạch, phương án sản xuất (kể cả các vườn đã được chỉnh trang, đầu tư sản xuất phát triển kinh tế) nhiều loại cây trồng, con nuôi đan xen, chưa chú trọng sản xuất tập trung hướng đến sản xuất hàng hóa liên kết nên còn khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.

- Chưa thành lập được các tổ hợp tác, HTX làm vườn giữ vai trò chủ đạo trong định hướng, hướng dẫn, chỉ đạo sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho người dân, chưa xây dựng được nhiều mô hình điển hình về liên kết từ khâu cung ứng đầu vào đến tiêu thụ đầu ra sản phẩm.

 - Chưa ứng dụng được nhiều về các tiến bộ kỹ thuật, ứng dụng công nghệ vào đầu tư phát triển kinh tế vườn.

- Cán bộ kỹ thuật xã chưa có kinh nghiệm, kỹ thuật chỉ đạo xây dựng vườn hộ.

2.2. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế:

* Nguyên nhân khách quan:

- Vườn hộ chủ yếu diện tích nhỏ, lực lượng lao động ngày càng ít và già hóa

- Thị trường bấp bênh không ổn định trong khi đó đầu tư chi phí làm vườn cao.

* Nguyên nhân chủ quan:

- Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở còn hạn chế nên chưa phát động được phong trào chuyển đổi, cải tạo phát triển kinh tế vườn hộ rộng rãi trong nhân dân, chưa có cơ quan chủ trì chỉ đạo, hướng dẫn chỉnh trang phát triển kinh tế vườn hộ một cách cụ thể.

- Cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế vườn hộ chưa nhiều, chưa được quan tâm đầu tư.

- Tư tưởng ỷ lại, trông chờ Nhà nước của người dân còn phổ biến, chưa mạnh dạn đầu tư thâm canh sản xuất trong vườn hộ. Người dân vẫn sản xuất theo hướng tự cung tự cấp, tùy tiện trong việc chấp hành quy trình kỹ thuật, cơ cấu giống và phòng trừ sâu bệnh.

- Sự phối kết hợp giữa các ban, phòng ngành chức năng trong công tác chỉ đạo chỉnh trang, bố trí cây trồng, vật nuôi, chuồng trại tại các vườn hộ còn yếu, tuyên truyền vận động bà con nông dân thực hiện chỉnh trang vườn hộ và công trình chăn nuôi còn nhiều hạn chế.

 

Phần thứ ba:

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI

NHỮNG THUẬN LỢI - KHÓ KHĂN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VƯỜN HỘ.

 

I. THUẬN LỢI - KHÓ KHĂN CHUNG.

1. Thuận lợi:

+ UBND tỉnh đã ban hành các quyết định hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp và các quyết định phê duyệt các vùng quy hoạch, các đề án phát triển sản xuất, danh mục các sản phẩm hàng hóa nông nghiệp chủ lực của tỉnh đến năm 2015 và định hướng phát triển đến năm 2020 tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển nông nghiệp.

+ Nghị quyết số 02-NQ/HU ngày 17/10/2011 của BCH Đảng bộ huyện khóa XXVIII đã được triển khai thực hiện và đạt nhiều kết quả tốt.

+ Các Đề án phát triển ngành Trồng trọt, Chăn nuôi - nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2011 - 2015 và Quyết định số 521/QĐ-UBND ngày 20/4/2012 về việc phê duyệt danh mục sản phẩm hàng hóa nông nghiệp chủ lực huyện Đức Thọ đến năm 2015, định hướng phát triển đến năm 2020 đã được UBND huyện ban hành.

+ Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới của huyện đang được triển khai quyết liệt đặc biệt là tiêu chí xây dựng vườn mẫu đạt được nhiều kết quả tốt, đang được nhân dân hưởng ứng thực hiện.

+ Các vùng sinh thái trong huyện đều có tiềm năng lợi thế để phát triển các sản phẩm chủ lực từ vườn của từng vùng gắn với các sản phẩm chủ lực của huyện, tỉnh để liên kết quy hoạch phát triển trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

 + Một số doanh nghiệp, HTX đã có sự phối hợp gắn kết với người sản xuất trong cung ứng nguồn giống, phân bón, đầu tư, thu mua chế biến nông sản trên địa huyện.

2. Khó khăn:

+ Thời tiết khí hậu diễn biến phức tạp, khó lường theo chiều hướng bất lợi cho sản xuất nông nghiệp, các loại sâu bệnh, dịch bệnh luôn có nguy cơ bùng phát gây hại.

+ Tư tưởng làm ăn nhỏ lẻ, sớm thỏa mãn với những kết quả đạt được, ngại đầu tư vẫn còn ở một bộ phận người sản xuất, bên cạnh đó chính quyền các cấp chưa thực sự quan tâm, thiếu nhiệt tình, sâu sát, thiếu trách nhiệm trong việc đầu tư chỉnh trang phát triển kinh tế vườn hộ.

+ Giá trị lợi nhuận trong sản xuất của nông nghiệp thấp đã ảnh hưởng đến tâm lý đầu tư của người dân, lực lượng tham gia lao động sản xuất ngày càng ít và đang già hóa.

+ Chưa có các doanh nghiệp, Hợp tác xã giữ vai trò chủ đạo trong liên kết sản xuất, chế biến tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp  theo hướng hàng hóa;

II. MỤC TIÊU.

1. Mục tiêu chung:

Tập trung để nâng cao kinh tế vườn hộ, hướng tới xây dựng vườn mẫu nhằm thực hiện tốt Đề án nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn trong thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện. Phấn đấu thu nhập từ kinh tế vườn hàng năm tối thiểu đạt 25 triệu đồng/500m2.

2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2020.

2.1. Về quy mô số lượng vườn chuyển đổi, cải tạo phát triển kinh tế:

Tập trung chỉ đạo thực hiện chỉnh trang tất cả các vườn hộ hiện nay trên địa bàn huyện, phấn đấu mỗi năm xây dựng chỉnh trang, đầu tư phát triển kinh tế vườn hộ đạt  20 - 40 %  số vườn trên địa bàn toàn huyện; ứng dụng  khoa học công nghệ trong sản xuất vườn, có hệ thống tưới, tiêu nước, cảnh quan đẹp, vệ sinh môi trường đảm bảo, 100% hộ có chuồng trại chăn nuôi đúng quy cách, có sử dụng biogas hoặc chế phẩm sinh học. Thu nhập từ kinh tế vườn phải đảm bảo tối thiểu đạt 25 triệu đồng/500m2 (Phấn đấu thu nhập cùng một đơn vị diện tích đất trồng cây trong vườn lớn hơn 05 lần thu nhập từ trồng lúa trong xã).

Mục tiêu  cụ thể sau khi vườn đã được đầu tư và cho sản phẩm:

+  Đối với vườn có diện tích từ  5.000m2  trở lên. Tổng thu nhập đạt trên 120 triệu đồng/ vườn/ năm.

- Đối với vườn có diện tích từ 3.000 - 5.000m2. Tổng thu nhập đạt từ 80 -120 triệu đồng/ vườn/năm. 

- Đối với vườn có diện tích từ 1.000 -  dưới 3.000m2.  Tổng thu nhập đạt từ  60 - 80 triệu đồng/vườn/năm.

- Đối với vườn có diện tích từ 500 -  dưới 1.000m2. Tổng thu nhập đạt từ 30-60 triệu đồng/vườn/năm.  

- Đối với vườn có diện tích từ 200 -  dưới 500 m2. Tổng thu  nhập đạt 5- 30 triệu đồng/vườn/năm.

- 100% vườn hộ có diện tích  từ  500 mtrở lên phải có bản vẽ thiết kế quy hoạch, phương án dự toán sản xuất, bố trí cây trồng, vật nuôi hợp lý và tổ chức chỉ đạo thực hiện đảm bảo quy hoạch, thiết kế của vườn.

2.2. Về sản phẩm của vườn:

2.2.1. Sản phẩm từ trồng trọt

- Sản phẩm hàng năm từ cây ăn quả sau khi cho thu hoạch đạt 350.000 tấn/năm.

- Sản phẩm từ rau, củ, quả các loại đạt 1.600 tấn/năm.

2.2.2. Về sản phẩm chăn nuôi:                                     

- Sản phẩm lợn đạt 8.457 tấn thịt hơi/năm.

- Sản phẩm bò đạt 1.200 tấn thịt hơi/năm.

- Sản phẩm gà: Sản phẩm gà thịt đạt 5.000 tấn thịt hơi/năm. Sản phẩm trứng đạt 25.000.000 quả/năm.

- Sản phẩm thủy sản đạt 1.400 -1.500 tấn/năm.      

  III. LỘ TRÌNH, KẾ HOẠCH THỰC HIỆN ĐỀ ÁN

1. Năm 2018:

- Xây dựng, hoàn thiện ban hành Đề án trước 30/6/2018; thực hiện tuyên truyền, triển khai Đề án rộng rãi tại các xã, thị trấn, triển khai lựa chọn và thực hiện xây dựng các vườn điểm tại các vùng sinh thái, xây dựng điểm thôn mẫu trong phong trào chỉnh trang, phát triển kinh tế vườn hộ;

- Tổ chức triển  khai rà soát  xây dựng bản vẽ thiết kế quy hoạch, phương án dự toán sản xuất, bố trí cây trồng, vật nuôi hợp lý cho 100% vườn hộ có diện tích  từ  500 m trở lên;

- Tổ chức triển khai chỉ đạo thực hiện xây dựng phấn đấu đạt 20% số lượng vườn hộ cần phải chỉnh trang, đầu tư phát triển kinh tế cụ thể: 30/148 vườn có diện tích trên 5.000m2; 71/363 vườn có diện tích từ 3.000 - dưới 5.000m2; 490/2.719 vườn có diện tích từ 1.000 - dưới 3.000m2; 981/5.332 vườn có diện tích từ 500 -  dưới 1.000m2 ; 1.372/6.853 vườn có diện tích từ 200 - dưới 500m2 và 1.136/5.678 vườn có diện tích dưới 200m2(Có biểu số 04 kèm theo).

2. Năm 2019:

 Tổ chức triển khai chỉ đạo thực hiện xây dựng phấn đấu đạt 40% số lượng vườn hộ cần phải chỉnh trang, đầu tư phát triển kinh tế cụ thể: 61/148 vườn có diện tích trên 5.000m2; 146/363 vườn có diện tích từ 3.000 - 5.000m2; 977/2.719 vườn có diện tích từ 1.000 - dưới 3.000m2; 2.134/5.332 vườn có diện tích từ 500 -  dưới 1.000m2 2742/6.853 vườn có diện tích từ 200 - dưới 500m2 và 2.272/5.678 vườn có diện tích dưới 200m2(Có biểu 05 kèm theo).

3. Năm 2020:

Tổ chức triển khai chỉ đạo thực hiện xây dựng phấn đấu đạt 40% số lượng vườn hộ cần phải chỉnh trang, đầu tư phát triển kinh tế cụ thể: 61/148 vườn có diện tích trên 5.000m2; 146/363 vườn có diện tích từ 3.000 - 5.000m2; 977/2.719 vườn có diện tích từ 1.000 - dưới 3.000m2; 2.134/5.332 vườn có diện tích từ 500 -  dưới 1.000m2 2742/6.853 vườn có diện tích từ 200 - dưới 500m2 và 2.272/5.678 vườn có diện tích dưới 200m2; (Có biểu 05 kèm theo).

Tổ chức sơ kết đánh giá kết quả 3 năm thực hiện Đề án phát triển kinh tế vườn hộ trên địa bàn huyện;

IV. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN.

1. Giải pháp về tuyên truyền, vận động người dân chỉnh trang phát triển kinh tế vườn hộ:

- Phát động phong trào chỉnh trang, phát triển kinh tế vườn hộ rộng rãi trong nhân dân, gắn với xây dựng vườn mẫu, khu dân cư mẫu trong xây dựng Nông thôn mới, tuyên truyền, phổ biến, quán triệt đầy đủ, sâu rộng về chương trình Phát triển kinh tế vườn hộ, các chính sách hỗ trợ của nhà nước  trên tất cả các kênh thông tin;

- Huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc để tuyên truyền, vận động, chỉ  đạo, hướng dẫn người dân thực hiện;

- Triển khai xây dựng các vườn mẫu tại các vùng sinh thái, tổ chức tham quan học tập để nhân rộng trong nhân dân;

- Các xã, thị trấn tổ chức các hội nghị thảo luận về tận các thôn, xóm  để bàn bạc xin ý kiến nhân dân về thực hiện chỉnh trang phát triển kinh tế vườn hộ; giao cho các tổ chức đoàn thể xây dựng kế hoạch, vận động, tuyên truyền, hướng dẫn đoàn viên, hội viên thực hiện;

- Chỉ đạo các xã, thị trấn lựa chọn  xây dựng 01 thôn mẫu/xã để tập trung chỉnh trang, phát triển kinh tế vườn hộ để làm điểm nhân rộng phong trào trong toàn địa phương;  

2. Giải pháp về quy hoạch các sản phẩm từ vườn cho các địa phương theo vùng sinh thái:

Trên cơ sở thực trạng hiện có, lợi thế của từng vùng, tổ chức đánh giá một cách sát đúng hiệu quả, giá trị  kinh tế của từng đối tượng cây trồng, vật nuôi trong phát triển kinh tế vườn hộ, nhu cầu của thị trường và khả năng liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm để từ đó có quy hoạch bố trí các đối tượng cây trồng, vật nuôi thích hợp theo hướng ưu tiên khai thác các tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, từng vùng để mở rộng phát triển vùng sản xuất nông sản tập trung có quy mô lớn theo hướng sản xuất hàng hóa:

2.1. Đối với Vùng Thượng Đức - Trà sơn:

-  Cây trồng chủ lực trong vườn hộ là cây ăn hàng hóa  quả gồm: Cam chanh, Bưởi Diễn, Hồng vuông, Thanh long;

- Vật nuôi chủ lực trong vườn hộ là: Bò, lợn,  gia cầm, ong, thủy sản cá nước ngọt.

+  Đối với vườn có diện tích từ 3.000 m2 đến trên 5.000m2 tập trung quy hoạch trồng thuần nhất một trong những loại cây ăn quả chủ lực của vùng; lắp đặt hệ thống tưới tiên tiến (tưới nhỏ giọt, tưới phun sương ...) kết hợp chăn nuôi gà thả vườn; chăn nuôi ong.

+  Đối với vườn có diện tích từ 1.000 - dưới 3.000m2  tập trung phát triển trồng cây ăn quả các loại như: Cam chanh, bưởi Diễn có lắp đặt hệ thống tưới tiên tiến (tưới nhỏ giọt, tưới phun sương) ... kết hợp chăn nuôi gà thả vườn, nuôi ong  nuôi nhốt bò thịt, chăn nuôi lợn quy mô nhỏ;

+ Đối với vườn có diện tích dưới 1.000 m2 tập trung phát triển trồng các loại cây ăn quả như: Cam chanh, bưởi Diễn kết hợp sản xuất rau các loại, phát triển chăn nuôi lợn quy mô nhỏ từ 10-20 con/lứa, làm bể biogas, chăn nuôi gà từ 100-200con/lứa bằng đệm lót sinh học.

2.2. Đối với vùng Lúa:

-  Cây trồng chủ lực vườn hộ là: Bưởi Diễn, Rau các loại.

- Vật nuôi chủ lực là: Gia cầm, thủy sản nước ngọt.

+ Đối với vườn có diện tích từ 1.000 - 3.000m2 tập trung trồng cây Bưởi Diễn, có lắp đặt hệ thống tưới tiên tiến, kết hợp nuôi cá nước ngọt, chăn nuôi gà thả vườn từ 100-200con/lứa, chăn nuôi bò quy mô từ 5-10 con/hộ;

+ Đối với vườn có diện tích từ 500 -  dưới 1.000 m2 tập trung trồng các loại rau, củ, quả có lắp đặt hệ thống tưới tiên tiến, xây dựng nhà lưới  trồng rau, kết hợp chăn nuôi bò quy mô nhỏ từ 5 con/hộ trở lên, chăn nuôi gà từ 50-100con/lứa, chăn nuôi lợn từ 30-50 con/lứa;

+ Đối với vườn có diện tích từ 200- dưới 500m2 tập trung sản xuất rau, củ, quả các loại, có lắp đặt hệ thống tưới tiên tiến kết hợp chăn nuôi gà thả vườn từ 50-100con/lứa;

 2.3. Đối với vùng Thị trấn và ven Thị Trấn.

- Cây trồng chủ lực vườn hộ là: Bưởi Diễn, Rau, hoa, cây cảnh.

- Vật nuôi chủ lực là: Gia cầm.

 +  Đối với vườn có diện tích từ 1.000 - 3.000m2 tập trung bố trí  trồng cây Bưởi Diễn hoặc sản xuất rau cao cấp trong nhà lưới, rau trồng theo phương pháp thủy canh, trồng hoa, cây cảnh có lắp đặt hệ thống tưới tiên tiến.

+  Đối với vườn có diện tích từ 500 -  dưới 1.000m2 tập trung sản xuất rau, củ, quả cao cấp, có lắp đặt hệ thống tưới tiên tiến, trồng trong nhà lưới, trồng thủy canh kết hợp chăn nuôi gà từ 70-100con/lứa;

+ Đối với vườn có diện tích dưới 500m2 tập trung sản xuất rau cao cấp, có lắp đặt hệ thống tưới tiên tiến kết hợp chăn nuôi gà quy mô từ 30-50con/lứa;

2.4.Vùng Ngoài đê:

-  Cây trồng chủ lực vườn hộ là: Bưởi Diễn, rau các loại.

- Vật nuôi chủ lực là: Gia cầm, bò.

+ Đối với vườn có diện tích từ 500 - 3.000m2 tập trung trồng bưởi Diễn kết hợp phát triển các loại rau có giá trị kinh tế, có lắp đặt hệ thống tưới tiên tiến, kết hợp chăn nuôi bò từ 5-7 con/hộ, nuôi gà từ 100-300con/lứa;

+ Đối với vườn có diện tích dưới 500m2 tập trung sản xuất rau kết hợp chăn nuôi gà quy mô từ 30-50con/lứa.

3. Giải pháp về thiết kế quy hoạch xây dựng, sơ đồ bố trí các loại cây trồng, vật nuôi của vườn hộ.

Phòng NN-PTNT phối hợp với Hội Nông dân huyện cùng UBND các xã, thị trấn trên cơ sở thực trạng vườn hộ giúp người dân định hướng vị trí vùng sản xuất sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi của từng vườn, định hướng chỉnh trang xây dựng quy hoạch, vẽ sơ đồ bố trí cây trồng, con nuôi hợp lý tại các vườn hộ, đầu tư hệ thống tưới nước, tiêu nước, đường đi, chuồng trại chăn nuôi đảm bảo vệ sinh môi trường, hợp lý đưa lại hiệu quả kinh tế vườn ổn định lâu dài.

100% số vườn hộ có diện tích trên từ 500 m2  phải có sơ đồ quy hoạch - thiết kế thể hiện rõ thực trạng, định hướng phát triển của vườn hộ theo các sản phẩm của phù hợp từng địa phương, có phương án triển khai thực hiện rõ nội dung, khối lượng công việc, thời gian triển khai và sơ đồ phải được UBND xã, thị trấn xác nhận.

4. Giải pháp về công tác quản lý, cung ứng cây trồng, vật nuôi, các loại vật tư, thuốc BVTV... cho xây dựng phát triển kinh tế vườn hộ.

- Phòng NN-PTNT phối hợp với Hội Nông dân huyện liên hệ với các doanh nghiệp, HTX  sản xuất, cung ứng  giống cây trồng, vật nuôi đảm bảo chất lượng, số lượng kịp thời cho các hộ dân sản xuất  thông qua đăng ký từ các tổ chức, đoàn thể của các xã, thị trấn, phát huy vai trò các HTX nông nghiệp trên địa bàn để thực hiện dịch vụ cung cấp phân bón, vật tư nông nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y cho người dân.

- Các ngành chức năng của tỉnh, huyện thực hiện kiểm tra quản lý chặt chẽ về chất lượng các loại giống, vật tư, phân bón, thuốc Bảo vệ thực vật…cung ứng trên địa bàn huyện, kiểm tra, quản lý nguồn giống, chất lượng phân bón, thuốc Bảo vệ thực vật, xử lý nghiêm các vi phạm theo đúng quy định;

5. Giải pháp về ứng dụng công nghệ sinh học, cơ giới hóa vào sản xuất phát triển kinh tế vườn hộ.

- Nâng cao tỷ lệ cơ giới hóa vào các khâu sản xuất vườn như đưa máy đào hốc, máy xới đất, máy phun thuốc…. vào các vườn trồng cây ăn quả có quy mô lớn;

- Áp dụng công nghệ tưới, tiêu khoa học, tiên tiến, xây dựng hệ thống nhà lưới, hệ thống canh tác thủy canh; áp dụng các tiến bộ khoa học như: sử dụng các giống mới, quy trình canh tác tiên tiến, chế phẩm sinh học trong xử lý rác thải, khử mùi hôi, thuốc Bảo vệ thực vật sinh học...

- Phát triển mạng lưới công nghệ thông tin đến xã, thôn xóm để người dân tiếp cận nhanh chóng với các thông tin kinh tế, khoa học kỹ thuật để đầu tư phát triển kinh tế vườn hộ.

6. Giải pháp về liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm từ vườn.

6.1. Liên kết giữa những hộ làm vườn:

Các hộ gia đình có đất vườn hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã để cùng có kế hoạch sản xuất một hay nhiều loại sản phẩm từ đó hình thành vùng sản xuất theo hướng hàng hóa  để  tìm kiếm liên kết với Doanh nghiệp trong sản xuất, chế biến đến tiêu thụ tạo ra sản phẩm hàng hóa có thương hiệu nhãn mác.

6.2. Liên kết vùng: Các địa phương có điều kiện tương đồng liên kết với nhau để cùng tổ chức hợp tác sản xuất các sản phẩm từ vườn hộ hướng tới vùng có các  sản phẩm từ vườn đồng nhất để xây dựng chương trình mỗi xã, mỗi vùng một sản phẩm (OCOP), xây dựng thương hiệu, tăng khả năng cạnh tranh, cùng mang lại hiệu quả cao hơn với các địa phương trong và ngoài tỉnh.

          7. Giải pháp về đăng ký thương hiệu, sản phẩm từ vườn và công tác quảng bá tiêu thụ sản phẩm từ vườn.

Phối hợp với Sở Khoa học công nghệ, Sở Công thương và các địa phương tổ chức tập huấn cho các hộ có quy mô diện tích vườn lớn, các xã thuộc vùng quy hoạch sản xuất các sản phẩm từ vườn có liên kết để tạo ra sản phẩm có thương hiệu nhãn mác;

- Các phòng, ban chuyên môn của huyện hướng dẫn các hộ gia đình, tổ chức, cá nhân về các thủ tục, trình tự trong thực hiện đăng ký thương hiệu các sản phẩm;

8. Giải pháp về cơ chế chính sách hỗ trợ:

8.1. Hỗ trợ kinh phí mua cây giống các loại cây ăn quả gồm: Cam chanh, bưởi Diễn, Thanh Long, Hồng vuông, mức hỗ trợ 10.000 đồng/cây đối với những vườn trồng mới đồng nhất một loại cây cây ăn quả có diện tích tối thiểu 500m(Tối thiểu 20 cây/500m2) .

(Yêu cầu mật độ cây trồng phải theo đảm bảo quy trình kỹ thuật trồng cây ăn quả. UBND xã, thị trấn cam kết đối với các hộ được hưởng chính sách theo đề án này các hộ phải đảm bảo sản xuất số lượng tổng đàn như: Bò, lợn, gà và diện tích cây trồng, rau, hoa,... trong 03 năm. Nếu hộ dân nào sau khi nhận kinh phí từ nguồn ngân sách huyện không duy trì tổng đàn thì UBND huyện sẽ thu hồi lại kinh phí hỗ trợ và khấu trừ qua trợ cấp cân đối ngân sách của địa phương đó).

* Hỗ trợ trồng mới 200 ha cây ăn quả  tương đương 100.000 cây; Tổng kinh phí hỗ trợ là 1,0 tỷ đồng.  

8.2. Hỗ trợ kinh phí lắp đặt hệ thống tưới tiên tiến cho các vườn hộ với mức hỗ trợ như sau:

- Vườn có diện tích từ 1.000m2 - dưới 3.000m2; mức hỗ trợ 5 triệu đồng/vườn.

- Vườn có diện tích trên 3.000m2; mức hỗ trợ 10 triệu đồng/vườn.

* Tổng có 3.054 vườn hộ có diện tích từ 1.000 – 3.000m2 và 565 vườn hộ có diện tích trên 3.000m2; Dự kiến tổng kinh phí hỗ trợ là 02 tỷ đồng.   

8.3.  Hỗ trợ xây dựng nhà lưới phục vụ sản xuất rau, hoa, cây cảnh, có quy mô diện tích từ 500m2 trở lên; mức hỗ trợ 30 triệu đồng/nhà lưới;

* Dự kiến sẽ xây dựng 50 nhà lưới, tổng kinh phí hỗ trợ thực hiện Đề án phát triển kinh tế vườn hộ là 1,5 tỷ đồng;

 Tổng kinh phí hỗ trợ của Đề án trong 03 năm dự kiến là: 4,5 tỷ đồng.

* Dự kiến phân bổ kinh phí hỗ trợ như sau:

+ Năm 2018:  Tổng kinh phí hỗ trợ không quá 01tỷ đồng (bao gồm nguồn kinh phát triển kinh tế vườn hộ và hỗ trợ cây giống, lắp đặt hệ thống tưới, nhà lưới);

+ Năm 2019: Tổng kinh phí hỗ trợ không quá 2,0 tỷ  đồng ( bao gồm nguồn kinh phí hỗ trợ cây giống, lắp đặt hệ thống tưới, nhà lưới);

+ Năm 2020: Tổng kinh phí hỗ trợ không quá 1,5 tỷ đồng (bao gồm nguồn kinh phí hỗ trợ cây giống, lắp đặt hệ thống tưới, nhà lưới);

Các địa phương có thể trích ngân sách để hỗ trợ cho các hộ đầu tư phát triển kinh tế vườn hộ trên địa bàn.

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Thành lập Ban Chỉ đạo:

Thành lập Ban chỉ đạo triển khai thực hiện Đề án gồm các thành viên: Đ/c Phó chủ tịch UBND huyện phụ trách khối kinh tế làm trưởng ban; trưởng các phòng, ban ngành liên quan, Chủ tịch UBND các xã, Thị trấn làm thành viên. Ban Chỉ đạo điều hành những vấn đề liên quan đến tổ chức thực hiện quy hoạch, giải quyết những vướng mắc nhất là về đất đai, thủ tục đầu tư, phát triển sản xuất, quản lý quy hoạch...

2. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

- Chủ trì, phối hợp với các phòng, ban, ngành và chính quyền các địa phương xây dựng Kế hoạch sản xuất của từng vùng để triển khai thực hiện.

- Chỉ đạo Trung tâm ƯDKHKT& bảo vệ cây trồng vật nuôi huyện hướng dẫn người dân về quy trình kỹ thuật sản xuất, phòng chống dịch bệnh, sâu bệnh cho cây trồng, vật nuôi; xây dựng các mô hình phát triển sản xuất các sản phẩm từ vườn để tổng kết nhân rộng;

- Chủ trì phối hợp với các phòng TC-KH, phòng ban liên quan hướng dẫn hồ sơ, thủ tục quy định loại giống, mật độ cây trồng để được hưởng cơ chế chính sách hiện hành.

- Tham mưu UBND huyện thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về giống cây trồng, vật nuôi, vật tư thú y và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

- Cơ quan thường trực, tham mưu UBND huyện hàng hàng quý, hàng năm tổ chức sơ kết đánh giá kết quả thực hiện Đề án.

- Tổ chức nghiệm thu, đánh giá kết quả thực hiệ các mô hình có hiệu quả tham mưu đề xuất UBND huyện hỗ trợ chính sách theo quy định.

3. Trung tâm Ứng dụng KHKT và Bảo vệ cây trồng vật nuôi:

Trung tâm ƯDKH&CGCN phối hợp với Phòng Nông nghiệp - Phát triển nông thôn tổ chức chỉ đạo, tập huấn chuyển giao công nghệ, xây dựng các mô hình, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi tiên tiến về giống, phân bón, kỹ thuật canh tác, kỹ thuật chăm sóc phòng trừ dịch bệnh, kỹ thuật xây dựng chuồng trại…để triển khai, áp dụng trong thực tế sản xuất phát triển kinh tế vườn hộ. Ngoài ra là khâu trung gian liên kết giữa các công ty giống với người nông dân trong sản xuất, chế biết, tiêu thu nông sản.

4. Các phòng ban ngành liên quan:

4.1. Phòng Tài chính - KH: Tham mưu UBND huyện bố trí nguồn kinh phí cho việc thực hiện phát triển kinh tế vườn hộ, cấp phát và thanh quyết toán nguồn kinh phía theo quy định của Luật ngân sách.

Phối hợp với các phòng ban liên quan lồng ghép các chương trình, dự án có liên kết vùng; hướng dẫn doanh nghiệp các thủ tục đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp theo quy định.

4.2. Phòng Hạ tầng - KT:  Hướng đẫn các địa phương xây dựng thương hiệu sản phẩm; xúc tiến thương mại, thành lập các hiệp hội ngành hàng, hình thành các chợ đầu mối tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trong vùng, phát triển hệ thống điện đến các vùng sản xuất…

 4.3. Phòng Tài nguyên và Môi trường: Hướng dẫn thủ tục, hồ sơ và thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân phát triển sản xuất; tăng cường công tác quản lý nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường.

4.4. Đài TT - TH huyện: Phối hợp với ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và xã, thị trấn xây dựng chương trình tuyên truyền về chủ trương định hướng của huyện trong phát triển kinh tế vườn hộ theo từng vùng sinh thái.

4.5. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện, cácơ quan đoàn thể:

 Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể từ huyện tới cơ sở tăng cường tuyên truyền, vận động hội viên, đoàn viên tích cực chỉnh trang đầu tư phát triên kinh tế vườn hộ. Đặc biệt là Hội Nông dân, Hội phụ nữ cần phối hợp chặt chẽ với ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng cường tuyên truyền, vận động các hội viên tích cực, chủ động và tự giác thực hiện đề án phát triển kinh tế vườn hộ tại các địa phương có hiệu quả.

          4.6. Các ngân hàng:

          - Đề nghị Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh chỉ đạo các ngân hàng thương mại trên địa bàn thực hiện tốt các nội dung tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

          - Các Ngân hàng: Chính sách xã hội, Phát triển, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Hà Tĩnh và các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân vay vốn phát triển sản xuất kinh tế vườn hộ.

5. Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn.

Căn cứ nội dung Đề án của huyện, UBND các xã, thị trấn xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế vườn hộ; đồng thời, chỉ đạo các ban, ngành liên quan, HTX nông nghiệp và các thôn, xóm thực hiện tốt các nội dung đề án.

Tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất chế biến tiêu thụ sản phẩm từ vườn theo hướng liên doanh, liên kết.

Trong quá trình triển khai thực hiện Đề án, nếu có khó khăn, vướng mắc phản ánh về Phòng NN và PTNT để tổng hợp, đề xuất UBND huyện xử lý./.

  Nơi nhận:

- UBND tỉnh Hà Tĩnh;

- Sở Nông nghiệp-PTNT;

- TT Huyện ủy - HĐND huyện;

- Chủ tịch, PCT.UBND huyện;

- Các phòng ban, ngành thuộc huyện;

- UBND các xã, thị trấn

- Lưu VT, NN;

- Gửi VB giấy + Điện tử.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH

 

(Đã ký)

 

 

                 Võ Công Hàm

 

 

Tin cùng chuyên mục